GIỚI THIỆU MỘT SỐ TIẾN BỘ KỸ THUẬT VỀ GIỐNG GIA SÚC

Trung tâm Giống gia súc lớn Trung ương

          Duyên hải Nam Trung Bộ nằm trong một vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với các đặc trưng chủ yếu như nhiệt độ cao, khí hậu nóng ẩm, cường độ ánh sáng mạnh, lượng mưa nhiều và tập trung vào một số tháng trong năm, do vậy hàng năm thường xuyên xảy ra hạn hán và mưa bão, gây thiệt hại rất lớn về người và của. Chính vì vậy duyên hải Nam Trung Bộ là một trong những vùng dễ bị tổn thương nhất của thiên tai và biến đổi khí hậu. Trong những năm gần đây, vùng Duyên hải Nam Trung bộ đã và đang phải hứng chịu những thiệt hại nặng nề do thiên tai gây ra khiến đời sống người dân khu vực này ngày càng khó khăn.

             Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, ảnh hưởng của El Nino, trên thế giới nhiều nước bị ảnh hưởng bất lợi ngay cả ở các nước phát triển như Úc, Mỹ. Họ đã có những nghiên cứu và đưa ra giải pháp can thiệp đầu tiên là nguồn gen, sau đó đến thay đổi các giải pháp nuôi dưỡng và quản lý theo hướng giảm thiểu bất lợi và hướng về phía lợi dụng các thời điểm mà điều kiện tự nhiên có lợi. Về giải pháp giống, họ đã sử dụng nguồn gen chịu hạn hán tốt để tạo ra giống tổng hợp thích ứng với điều kiện hạn hán tại địa phương của họ. Bằng cách tiếp cận này, Úc đã tạo thành công được giống bò Droughtmaster, Mỹ có giống bò Brahman, đây là những thành công nổi bật về mặt khoa học công nghệ về giải pháp giống. Tương tự như đối với bò, nhiều giống dê, cừu như dê Boer, cừu Dorper,… nổi tiếng trên thế giới đã được tạo ra và chúng là những giống có sức sống, sức chịu đựng tốt, thích ứng với nhiều vùng khí hậu, nhất là những vùng khí hậu khô, nóng, hạn hán. Để giúp người chăn nuôi có thêm thông tin về những tiến bộ về các giống thích ứng với biến đổi khí hậu, Trung tâm Giống gia súc lớn Trung ương “Giới thiệu một số tiến bộ kỹ thuật về giống gia súc” nhằm giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong việc phát triển chăn nuôi gia súc tại các tỉnh duyên hải miền Trung.

I. MỘT SỐ GIỐNG GIA SÚC CÓ KHẢ NĂNG THÍCH NGHI TỐT VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1. GIỐNG BÒ DROUGHTMASTER

1.1. Nguồn gốc:

Droughtmaster có nguồn gốc từ phía Bắc bang Queensland, Australia bằng phương pháp lai giữa bò Zebu (Bos indicus) với giống bò Shorthorn (Bos taurus) nhằm kết hợp những phẩm chất tốt của hai giống để tạo ra một giống thích hợp với vùng nhiệt đới. Sau nhiều năm chọn lọc đã tạo được giống bò Droughtmaster. Droughtmaster có khả năng cho thịt bò chất lượng cao và nổi tiếng với khả năng chịu nhiệt, kháng ký sinh trùng, sinh sản tốt và tính tình hiền lành.

1.2. Đặc điểm

1.2.1. Khả năng chịu nhiệt

          Đây là một đặc điểm có giá trị kinh tế bởi vì khi nhiệt độ cơ thể tăng sẽ làm gia súc stress dẫn đến việc sử dụng nhiều năng lượng của cơ thể, tăng lượng nước tiêu thụ và giảm lượng thức ăn ăn vào. Khả năng chịu nhiệt của Droughtmaster là do Droughtmaster có bộ lông ngắn; số lượng và kích thước của các tuyến mồ hôi của Droughtmaster lớn; da mỏng và có độ đàn hồi cao và tốc độ trao đổi chất chậm.

          Sắc tố đỏ của da và đặc điểm của mắt: Đặc điểm này giúp Droughtmaster thích nghi tốt với vùng nhiệt đới. Sắc tố đỏ giúp bảo vệ Droughtmaster khỏi tác động của tia tử ngoại do đó làm giảm tỷ lệ mắc các rối loạn về mắt và nhạy cảm với ánh sáng. Mắt của Droughtmaster lõm sâu giúp giảm thiểu ảnh hưởng do va đập và bảo vệ mắt khỏi côn trùng, cũng như giảm khả năng mắc các bệnh liên quan đến mắt và ung thư mắt.

1.2.2. Kháng kí sinh trùng

          Droughtmaster có khả năng chống lại hầu hết các loại nội và ngoại ký sinh trùng. Khả năng này của Droughtmaster là do trong thành phần hóa học của tuyến mồ hôi có một số chất hoạt động như một loại thuốc đuổi ký sinh trùng; Ngoài ra, lông bò Droughtmaster ngắn đã hạn chế kí sinh trùng bám dính; Hệ miễn dịch có khả năng đáp ứng tốt với nội và ngoại ký sinh trùng.

1.2.3. Hệ tiêu hóa của Droughtmaster hoạt động rất hiệu quả

          Hầu hết các khu vực chăn nuôi bò thịt trên thế giới thường bị thiếu thức ăn trong một giai đoạn nhất định. Droughtmaster có một hệ tiêu hóa phù hợp với điều kiện chăn nuôi kham khổ với dạ cỏ nhỏ; ruột của Droughtmaster có cấu tạo đặc biệt nên Droughtmaster có khả tiêu hóa một lượng lớn thức ăn họ đậu mà không bị chướng hơi. Tốc độ trao đổi chất chậm nên nhu cầu thức ăn của Droughtmaster thấp. Một đặc điểm nữa là Droughtmaster có khả năng tái sử dụng chất dinh dưỡng thông qua hệ tuần hoàn. Tốc độ của chu kỳ chuyển hóa protein chậm cho phép Droughtmaster thích nghi tốt với khẩu phần có giá trị dinh dưỡng thấp. Droughtmaster có khả năng đi bộ và khả năng tìm kiếm thức ăn tốt kết hợp với những ưu điểm của hệ tiêu hóa cho phép Droughtmaster có thể sinh trưởng và phát triển bình thường trong những điều kiện chăn nuôi khó khăn nhất.

1.2.4. Khả năng sinh sản tốt

          Dễ đẻ, tính hăng cao, khả năng sinh sản và khả năng thích nghi cao là những đặc điểm quan trọng giúp Droughtmaster có khả năng sinh sản tốt. Đặc điểm dễ đẻ của bò cái Droughtmaster giúp loại bỏ sự can thiệp của con người trong quá trình đẻ của bò cái, do đó giảm thời gian và chi phí quản lý.

          Một đặc điểm nữa của bò Droughtmaster là khối lượng sơ sinh nhỏ so với các giống Bos Taurus. Tuy nhiên bê Droughtmaster luôn luôn bắt kịp với các giống khác ở thời điểm cai sữa. Khối lượng sơ sinh nhỏ sẽ là một lợi thế lớn khi sử dụng Droughtmaster khi muốn lai tạo với các giống bò đực cao sản có nguồn gốc châu Âu. Bò đực Droughtmaster sẽ di truyền những đặc điểm quan trọng về ngoại hình và khối lượng sơ sinh nhỏ khi cho lai tạo với các giống khác. Bò cái lai F1 rất phù hợp khi dùng để giao phối với các bò đực có khối lượng lớn.

1.2.5. Chất lượng thịt cao

          Với cơ sở di truyền của Shorthorn, Droughtmaster được đánh giá cao về thân thịt bò chất lượng cao. Con đực trưởng thành và béo mập có thể đạt tới khối lượng 900-1.000 kg, con cái 650-700 kg. Trong một thí nghiệm gần đây ở Queensland về chất lượng thịt Droughtmasters, kết quả cho thấy tỷ lệ thịt xẻ tăng lên 58% và tỷ lệ thịt ăn được đạt 76%.

1.2.6. Một số nghiên cứu về bò Droughtmaster và con lai Droughtmaster tại Việt Nam

Nghiên cứu trên đàn bò Droughtmaster thuần cho thấy: Bê Droughtmaster thuần sinh tại các cơ sở sản xuất của các tỉnh phía Nam có khối lượng sơ sinh 24,5kg. Khối lượng 6 tháng tuổi 119,9kg, 12 tháng tuổi 198,4kg, 18 tháng tuổi 256,5kg. Tăng khối lượng bình quân trong giai đoạn từ sơ sinh đến 6 tháng đạt 522 g/ngày, từ sơ sinh đến 12 tháng đạt 476g/ngày, từ sơ sinh đến 18 tháng đạt 432 g/ngày. 30 bò cái tơ giống Droughtmaster nuôi tại Trung tâm Bến Cát có tăng trọng bình quân trong giai đọan 16-24 tháng tuổi là 206g/ngày. Tăng khối lượng bê Droughtmaster thuần tại các cơ sở có sự khác biệt lớn, căn bản là do dinh dưỡng và kĩ thuật nuôi dưỡng. Tại trại Công ty bò sữa, tăng trọng bê giai đoạn sơ sinh đến 12-13 tháng tuổi đạt trung bình 600 g/ngày. Tại Huế số liệu tương ứng là 434g/ngày. Sau 1 năm tuổi tăng trọng bình quân giảm còn 350g/ngày. Tại Nông trường Sông Hậu tăng trọng trung bình từ sơ sinh đến 7 tháng tuổi đạt 596g/ngày. Tại Bình Phước tăng trọng bê từ sơ sinh đến 6-7 tháng tuổi đạt 392g/ngày. Tại Trung tâm Bến Cát, tăng trọng trung bình của bê trong giai đoạn bú sữa (0-5 tháng) đạt 703g/ngày (Đinh Văn Cải, 2005).

Đinh Văn Tuyền và cs. (2011) nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của bê lai 1/2 Droughtmaster và 1/2 Limousine nuôi tại Đắk Lắk. Kết quả cho biết trong điều kiện nuôi tập trung tại trang trại theo phương thức bán chăn thả ở Đắk Lắk, bê lai 1/2 Droughtmaster cao hơn một chút bê lai 1/2 Limousine, khối lượng cơ thể lúc 12 tháng tuổi của con lai 1/2 Droughtmaster từ 189,1 – 211,4 kg; trong khi đó khối lượng cơ thể của con lai 1/2 Limousine từ 176,4 – 187,8kg. Tại thời điểm 18 tháng tuổi, khối lượng của con lai 1/2 Droughtmaster từ 275 – 341kg; ở con lai 1/2 Limousine đạt từ 287 – 338kg tương ứng trên bê cái và bê đực. Tuy nhiên, trong điều kiện chăn nuôi nông hộ khối lượng lúc 12 tháng tuổi ở hai con lai này tương đương nhau (từ 192,9 – 219,2 kg), nhưng đến 18 tháng tuổi và 21 tháng tuổi, con lai 1/2 Droughtmaster có phần cao hơn con lai 1/2 Limousine. Tăng trọng từ 0 đến 21 tháng tuổi của con lai 1/2 Droughtmaster từ 440 – 580 g/con/ngày và của con lai 1/2 Limousine từ 470 – 570 g/con/ngày.

  1. GIỐNG BÒ BRAHMAN

2.1. Nguồn gốc

Là giống bò thịt đầu tiên được phát triển ở Mỹ, Brahman đã đóng một vai trò quan trọng không chỉ trong các chương trình lai tạo trên khắp nước Mỹ mà còn trở thành giống phổ biến trong số các giống khác của Mỹ được phát triển trong thế kỷ trước. Ảnh hưởng của Brahman trong ngành công nghiệp thịt bò được phổ biến trên toàn thế giới, và giá trị di truyền của chúng được các nhà chăn nuôi tìm kiếm trên mọi châu lục. Trong suốt quá trình tiến hóa của chúng, chúng đã chịu đựng nạn đói, bệnh tật và các biến động cực đoan về nhiệt độ. Do đó, thông qua chọn lọc tự nhiên gia súc này có khả năng tồn tại và phát triển trong khi các loài khác đã thất bại. Trong quá trình phát triển, Brahman đã cải thiện khả năng sản xuất thịt thông qua lai tạo với bò bản địa ở mọi quốc gia mà chúng đã được giới thiệu.

2.2. Đặc điểm

2.2.1. Ưu thế lai cao

Bò Brahman nổi bật trong việc tăng ưu thế lai cho con lai của chúng khi lai tạo với các giống khác, điều này sẽ đem đến nhiều lợi nhuận hơn cho người chăn nuôi. Ưu thế lai là khái niệm di truyền học được thực hiện bằng cách lai hai giống khác nhau để tạo ra con lai có ưu thế vượt trội so với bố mẹ. Trong chăn nuôi trâu bò, ưu thế lai cao nhất khi cho lai hai giống khác nhau để đạt được kết quả tốt nhất.

Kết quả nghiên cứu lai tạo đã cho thấy rằng, ưu thế lai của bò Brahman với các giống bò của Anh hoặc với bò của các lục địa khác cao hơn ưu thế lai giữa bò anh với bò của các lục địa khác với nhau. Do đó, bò Brahman thường được xem là mẫu số chung của các phép lai. Bò F1 lai Brahman luôn có ưu thế vượt trội về khối lượng và tỷ lệ thịt xẻ. Bò F1 lai Brahman cũng rất phổ biến vì những con này có nhiều đặc điểm quan trọng của cha hoặc mẹ Brahman như chịu hạn, chịu nhiệt, khả năng chống chọi với bệnh tật tốt và khả năng kháng ký sinh trùng.

2.2.2. Khả năng sinh sản tốt

Bò cái F1 lai Brahman được xem là cỗ máy sinh sản tốt… chúng có năng suất sữa cao, khả năng sinh sản tốt, tuổi cai sữa sớm. Bò cái lai F1, có thời gian sử dụng lâu, nuôi được nhiều bê con trong suốt cuộc đời của mình so với các giống khác. Trong chăn nuôi vỗ béo, bò Brahman lai khỏe mạnh và tăng trọng nhanh, tốt và đạt được hiệu quả cao hơn. Tỷ lệ thịt xẻ cũng cao hơn và ít mỡ thừa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày nay của khách hàng đòi hỏi cao về thực phẩm tốt sức khoẻ.

2.2.3. Khả năng thích nghi tốt với môi trường

Brahman có màu da sẫm màu, có khả năng lọc các tia cực tím của mặt trời cũng như giữ cho con vật không bị ung thư mắt. Khả năng thích nghi với các môi trường khác nhau làm cho bò Brahman có khả năng thích nghi với rất nhiều vùng bao gồm khả năng sử dụng các loại thức ăn chất lượng kém, có khả năng di chuyển xa để kiếm ăn và nước uống, khả năng kháng côn trùng và ký sinh bên ngoài trong khi vẫn phải chịu đựng những khác biệt về khí hậu tốt. Bò Brahman có khả năng sinh sản tốt trong các điều kiện môi trường khắc nghiệt. Brahman có khả năng chống chịu tốt với ảnh hưởng của nhiệt độ cao.

Một yếu tố góp phần vào khả năng chống chịu với nhiệt độ cao của bò Brahman là bộ lông ngắn, dày và bóng có khả năng phản chiếu các tia nắng mặt trời, yếu tố này cho phép bò Brahman có thể chăn thả vào giữa trưa mà không bị ảnh hưởng nhiều. Vào mùa đông khắc nghiệt, bò Brahman bộ lông phát triển dài và thô để bảo vệ cơ thể. Độ đàn hồi của da tốt là đặc trưng của giống, cũng giúp khả năng chịu được thời tiết ấm áp bằng cách tăng diện tích bề mặt cơ thể tiếp xúc với môi trường. Trong thời tiết lạnh, da bị co lại, tăng độ dày của lớp da và mật độ của lông, giúp duy trì nhiệt trong cơ thể. Một đặc điểm đặc biệt của giống Brahman là khả năng tự tiết mồ hôi, góp phần rất lớn vào khả năng chịu nhiệt của chúng.

2.2.4. Kh năng tăng trng nhanh và cht lưng tht xẻ tốt

Bê lai Brahman được ghi nhận có khả năng sinh trưởng nhanh, vì vậy bê lai Brahman luôn tạo ra khối lượng nhiều hơn so với hầu hết các giống khác. Bê lai Brahman được ưa chuộng nuôi ở các vùng nóng, ẩm khi mà hiệu quả sử dụng các loại thức ăn của các giống bê châu Âu và Anh giảm. Khả năng thích nghi của những con bò lai Brahman trong mùa nóng là một yếu tố kinh tế có lợi.

Tăng trọng nhanh là một ưu điểm của bò Brahman và các con lai của Brahman. Brahman có chất lượng thịt xẻ tốt với tỷ lệ nạc cao và tỷ lệ mỡ thấp. Trong một nghiên cứu gần đây của Texas A & M, bò cái Angus và Hereford đã được lai với các bò đực Brahman. Các bò lai được đưa vào các cơ sở vỗ béo ngay sau khi cai sữa. Những con bò đực tơ được cho ăn trong 180 ngày và giết mổ lúc 13-14 tháng.

2.2.5. Khả năng sản xuất sữa

Bò Brahman được biết đến trên toàn thế giới vì các ưu thế lai tạo, tuy nhiên nhiều nhà sản xuất sữa ở Nam Mỹ và Nam và Trung Mỹ cũng sử dụng bò Brahman trong việc lai tạo với giống bò sữa. Những giống bò với hai mục đích sản xuất này là tương lai của ngành công nghiệp chăn nuôi bò ở các vùng nhiệt đới. Sử dụng bò Brahman ở vùng nhiệt đới sẽ mang lại khả năng thích nghi, khả năng sinh sản, sức đề kháng bệnh tật và tuổi thọ. Khả năng di truyền của bò Brahman sẽ nâng cao được khối lượng bê khi cai sữa, thịt bò có chất lượng và giá trị hơn. Bò Brahman cũng bổ sung thêm lượng chất béo và bơ, cũng như tăng sản xuất và thu nhập ròng cho người chăn nuôi.

2.2.6. Một số nghiên cứu về bò Brahman và bò lai Brahman ở Việt Nam

Đinh Văn Cải và cs. (2005) nghiên cứu trên đàn bò Brahman ở Bình Định có tuổi động dục lần đầu lúc 24,3 tháng và đẻ lứa đầu lúc 36,2 tháng; tỷ lệ đẻ bình quân 58,84%/năm, hệ số phối 1,74; tỷ lệ đậu thai phối lần đầu 45,45% và khoảng cách lứa đẻ 20,5 tháng. Khối lượng bê sơ sinh 23,68 ± 0,48 kg, 6 tháng tuổi 137,95 ± 7,47kg; 12 tháng tuổi 207,69 ± 5,00kg; 18 tháng tuổi 286,02 ± 6,63kg. Trong điều kiện nuôi dưỡng trong nông hộ thiếu thức ăn, bê cái 12 tháng tuổi 177,0 ± 4,92kg, 18 tháng tuổi 228,0 ± 6,67kg.

Hoàng Văn Trường và Nguyễn Tiến Vởn (2008) nghiên cứu trên đàn bò Brahman nuôi trong nông hộ ở Bình Định từ tháng 1 năm 2001 đến tháng 6 năm 2007 cho thấy khối lượng lúc sơ sinh là 24,3 kg đối với bê cái và 25,8 kg đối với bê đực; 6 tháng tuổi đạt 130,7 kg đối với bê cái và 143,6 kg đối với bê đực; 12 tháng tuổi đạt 193,5kg đối với bê cái và 199,1 kg đối với bê đực và 18 tháng tuổi đạt 220,1 kg đối với bê cái và 272,2 kg đối với bê đực; kích thước một số chiều đo lúc 18 tháng tuổi: cao vây 116,5cm, dài thân chéo 120,9cm và vòng ngực 145,6cm; bò cái thành thục sinh dục vào khoảng 27-28 tháng tuổi, tuổi phối giống lần đầu từ 29-30 tháng và khoảng cách lứa đẻ 560-673 ngày (18-22 tháng).

Đinh Văn Tuyền và cs. (2008) cho biết đàn bò Brahman nuôi tại TP. Hồ Chí Minh có khoảng cách lứa đẻ trung bình 412 ngày (13,54 tháng), hệ số phối trung bình 1,36 lần. Khối lượng khối lượng lúc sơ sinh là 20,54 ± 3,05kg với bê cái và 22,59 ± 3,49kg với bê đực; 6 tháng tuổi: 127,4 kg với con cái và 144,3 kg với con đực; lúc 12 tháng tuổi: 204,7 kg với con cái và 195.2 kg với con đực; lúc 18 tháng tuổi: 251,0 kg với con cái và 289,0 kg với con đực; lúc 24 tháng tuổi: 318,8 kg với con cái và 324,3kg với con đực.

Bê lai Brahman sinh ra từ bò cái lai Sind thích hợp cho các phương thức chăn nuôi ở Việt Nam. Việc phát triển chăn nuôi bê lai Brahman đã có những bước tiến bộ đáng kể. Bò đực giống Brahman hiện đã thay thế hoàn toàn bò đực Sind trong chương trình Zebu hóa đàn bò Việt Nam.

  1. GIỐNG CỪU DORPER

3.1. Nguồn gốc

Cừu Dorper được phát triển từ những năm 1930 ở Nam Phi từ 2 giống cừu Dorset Horn và Blackheaded Persian. Giống cừu Dorper được phát triển thông qua việc lai giữa loài cừu đen Ba Tư với Dorset Horn và điều này dẫn đến sự ra đời của một số cừu Dorper trắng. Sự khác biệt về màu sắc chỉ là vấn đề ưu tiên của các nhà tạo giống. Các nhà lai tạo cừu Dorper đầu đen chiếm khoảng 85% số thành viên của Hội Nông dân chăn nuôi cừu ở Nam Phi. Cừu Dorper được nghiên cứu để thích nghi với môi trường khô cằn của Nam Phi. Một trong những giống cừu có khả năng sinh sản tốt nhất không có sừng với chiều dài cơ thể tốt và lớp lông ngắn. Hơn nữa, giống này cho thấy khả năng thích nghi đặc biệt, tỷ lệ sinh sản và sinh trưởng, cũng như khả năng làm mẹ rất tốt.

Giống Dorper hiện nay là giống cừu lớn thứ hai ở Nam Phi và đã lan sang nhiều nước trên thế giới.

3.2. Đặc điểm

3.2.1. Khả năng thích nghi

Khả năng thích nghi với điều kiện khó khăn là một trong những mục tiêu chính trong việc phát triển cừu Dorper. Cừu Dorper có thể phát triển mạnh trong nhiều điều kiện khí hậu khác nhau; từ khô cằn đến khu vực bán nhiệt đới. Chúng phù hợp với các khu vực có lượng mưa hàng năm từ 100 – 760mm. Dorper ban đầu được nuôi để sản xuất trong điều kiện khô cằn. Bây giờ cũng được nuôi trong điều kiện cực lạnh, tuyết và ẩm ướt. Trong những điều kiện này, động vật phải có khả năng tồn tại và chống lại các mối nguy và bệnh tật về sức khỏe. Cừu Dorper có khả năng sử dụng thức ăn và chuyển hóa thức ăn rất cao (nghĩa là chúng có thể tồn tại tốt trên các đồng cỏ có giá trị dinh dưỡng kém trong khi các giống cừu khác không thể). Vì vậy cừu Dorper có thể chuyển hóa “khó khăn” thành lợi nhuận. Cừu Dorper đòi hỏi điều kiện sống thấp hơn so với hầu hết các giống cừu khác, vì chúng không phải để lấy lông do đó không yêu cầu cắt.

3.2.2. Thói quen ăn cỏ tốt

Cừu Dorper không chọn lọc thức ăn trong khi chăn thả, tức là nó ăn tất cả mọi thứ và cỏ dại. Các giống cừu khác có chọn lọc thức ăn cao trong thói quen chăn thả của chúng, như chỉ thích cỏ ba lá và cỏ mềm. Cừu Dorper thích cỏ thô và cỏ dại thân cứng và hệ tiêu hóa của cừu Dorper hoạt động tốt hơn nếu khẩu phần bổ sung thêm nhiều thức ăn thô.

3.2.3. Khả năng sản xuất thịt tốt

Cừu Dorper có khối lượng sơ sinh nhỏ nhưng có tốc độ sinh trưởng rất nhanh. Chúng có thể bắt đầu ăn cỏ vào ngày thứ 2 và phát triển rất nhanh sau đó. Cừu Dorper có thể đạt khối lượng 36 kg trong khoảng 3,5 – 4 tháng tuổi, tỷ lệ thịt xẻ đạt 50%. Trong điều kiện nuôi dưỡng tối ưu, cừu Dorper có thể đạt khối lượng cao hơn. Các nhà chế biến thịt thích thịt cừu Dorper và thịt cừu lai cừu Dorper vì tỷ lệ thịt xẻ cao và mỡ cừu được phân bố rất đẹp trên thân thịt. Cừu Dorper thuần và cừu Dorper lai đều có tốc độ phát triển nhanh và có thể đạt được khối lượng cai sữa lớn. Cừu Dorper rất thông minh và tò mò nên dễ dàng trong chăm sóc và quản lý đàn.

3.2.4. Khả năng sinh sản tốt

Cừu Dorper là một trong những giống cừu có khả năng sinh sản tốt nhất. Mùa sinh sản của cừu Dorper kéo dài mà không giống như nhiều giống cừu khác không bị hạn chế theo mùa. Điều này giúp cho tốc độ tăng đàn nhanh hơn so với hầu hết các giống cừu khác. Cừu cái có khả năng sản xuất sữa tốt và khả năng chăm sóc con tốt nên tỷ lệ sống của cừu con đến lúc cai sữa là rất cao.

3.2.5. Hiệu quả kinh tế cao

Da cừu Dorper được coi là tốt nhất trên thế giới. Nó không có nếp nhăn và dày. Nó được sử dụng trong sản xuất quần áo và găng tay da chất lượng cao. Những loại da này là một sản phẩm xuất khẩu được tìm kiếm và một vài loại da của Dorper được sử dụng trong ngành công nghiệp da. Da cừu Dorper được bán chủ yếu để xuất khẩu với giá cao.

3.2.6. Các nghiên cứu về cừu Dorper và cừu lai Dorper ở Việt Nam

Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào đầy đủ về cừu Dorper thuần nhưng các nghiên cứu về con lai cừu Dorper thì có rất nhiều. Kết quả nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu sinh trưởng, sinh sản, cho thịt và một số giải pháp nâng cao năng suất thịt của cừu Phan Rang” do Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây chủ trì thực hiện từ 2011-2015 cho thấy khi so sánh cừu lai F1 50% máu Dorper với đàn cừu Phan Rang chọn lọc kết quả cho thấy cừu lai F1 50% máu Dorper có khối lượng sơ sinh tăng 10,9%; 3 tháng tăng 20,3%; 6 tháng tăng 17,6%; 12 tháng tăng 13,1%; 24 tháng tăng 11,1% so với cừu Phan Rang cùng tuổi. Cừu lai F2 75% máu Dorper có khối lượng lúc 3 tháng tăng 23,4%; 6 tháng tăng 23,2%; 12 tháng tăng 16,8% và 24 tháng tăng 17,6% so với cừu Phan Rang chọn lọc. Qua đó cho thấy các con lai của chúng thường sinh trưởng nhanh hơn giống cừu bản địa nhiệt đới (Phan Rang). Con lai F1; F2 (50-75% máu cừu Dorper) có khả năng sinh trưởng nhanh hơn và khối lượng lúc 24 tháng tuổi cao hơn so với cừu Phan Rang chọn lọc. Ưu thế lai về khối lượng của con lai F1 (Dorper x Phan Rang) ở lần lượt các tháng tuổi: 3; 6; 9; 12; 24 có khối lượng trung bình con lai nặng hơn so với cừu Phan Rang lần lượt là: 7,05; 8,07; 8,57; 9,27 và 7,27 kg, điều đó chứng tỏ khi sử dụng cừu Dorper cho lai với cừu Phan Rang làm cho năng suất của con lai tăng lên so với cừu Phan Rang.

Ưu thế lai về khối lượng của con lai F2 (Dorper x (Dorper x Phan Rang)) ở lần lượt các tháng tuổi: 3; 6; 9; 12; 24 có khối lượng trung bình con lai F2 nặng hơn so với con lai F1 lần lượt là: 7,7; 8,2; 8,4; 9,5; 6,6. Vì vậy việc sử dụng giống cừu Dorper trong lai tạo với cừu địa phương là một trong những giải pháp tốt để tăng năng suất trong chăn nuôi cừu.

  1. GIỐNG DÊ BOER

4.1. Nguồn gốc

Dê Boer còn được gọi là Afrikaner, dê phổ biến ở Nam Phi và dê Boerbok. Dê Boer được phát triển ở Nam Phi bởi những người định cư Hà Lan vào đầu những năm 1900 với mục tiêu ban đầu là tạo ra giống dê khỏe mạnh, thích nghi có thể sống sót qua các điều kiện khí hậu khắc nghiệt khác nhau của châu Phi. ‘Boer’ trong tiếng Hà Lan có nghĩa là nông dân.

4.2. Đặc điểm

4.2.1.Khả năng sinh trưởng tốt

Dê Boer được đặc trưng bởi đầu đỏ và đỏ trên ít nhất một phần cổ, thân màu trắng. Chúng có đôi tai to lớn, rủ, chân dài, chiều cao trung bình 78cm. Dê Boer có cơ bắp rất đầy đặn, nhất là phần ngực, đùi, sinh trưởng nhanh dê cho nhiều sữa, nhưng đa số đều có chu kỳ sữa ngắn ngày. Do đó, nhiều người cho giống dê này lai với dê Bách Thảo để năng suất sữa được cao hơn và chu kỳ sữa được dài hơn. Tuy nhiên mục tiêu chính tạo ra dê Boer là thịt. Tốc độ sinh trưởng của dê đực nhanh hơn so với một số giống khác. Khối lượng sơ sinh là 3,2-4 kg. Khối lượng cai sữa trung bình là 24,9 kg. Dê Boer đực trong các quần thể có thể đạt khối lượng 70-130 kg và 50-80 kg đối với dê cái, với tốc độ tăng trưởng trung bình tương ứng là 250 và 186 gram mỗi ngày. Dê Boer có thể ăn nhiều loại cây do vậy có thể sử dụng dê Boer để kiểm soát sự xâm lấn của cây bụi trong quản lý đồng cỏ.

4.2.2. Khả năng chống chịu bệnh tật tốt

Dê Boer có tỷ lệ chuyển đổi nước thấp và sức đề kháng tốt với nội ký sinh trùng. Dê Boer cũng có khả năng đặc biệt để chống lại các bệnh như lưỡi xanh, ngộ độc acid prussic, nhiễm độc đường ruột (thận bị nhiễm trùng). Các thói quen chăn thả của dê Boer cũng làm cho nó ít nhạy cảm với nội ký sinh trùng do đặc điểm thích ăn cỏ trên mặt đất.

4.2.3. Khả năng sinh sản tốt

Dê Boer tăng trưởng nhanh, chúng dễ nuôi, mắn đẻ, nuôi con giỏi. Chúng động đực lần đầu từ 5-7 tháng tuổi. Tuổi phối giống lần đầu khi dê cái được 15 tháng tuổi đạt trọng lượng từ 30–40 kg, dê đực 45–60 kg. Chu kì động đực từ 18-21 ngày. Thời gian mang thai từ 145-155 ngày. Dê cái có tỷ lệ sinh rất cao so với các giống dê khác. Dê cái đẻ lần đầu thường là một con, lần 2, 3 có thể là 2-3 con/lần đẻ (15 – 20% đàn). Một dê đực được sử dụng quản lý phối giống 25-30 dê cái.

4.2.4. Chất lượng thịt

Thịt dê Boer có hàm lượng cholesterol thấp nên nhu cầu thịt dê ngày càng gia tăng từ những người có ý thức về sức khỏe ở châu Âu và các nước phát triển khác. Dê Boer có tỷ lệ cơ cao hơn tỷ lệ xương tỷ lệ này là 4,7:1.

4.2.5. Các nghiên cứu về dê Boer và dê lai dê Boer ở Việt Nam

Cùng với việc nhân thuần chọn lọc các giống dê trên, thời gian qua cũng đã sử dụng dê đực Boer lai với dê cái các giống hiện có tạo ra con lai theo hướng nâng cao năng suất thịt. Trong các công thức lai tạo được thử nghiệm nghiên cứu giai đoạn 2002-2005 của Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây đã rút ra kết luận: Con lai F1 giữa dê đực Boer với cái Bách Thảo và với cái F1 (Bách thảo x Cỏ) cho khả năng tăng trọng, năng suất thịt cao hơn các cặp lai khác. Kết quả nghiên cứu giai đoạn 2006 – 2010 cho thấy: Dê lai (75% Boer, 25% Bách Thảo) tạo ra đạt được một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật như: Tuổi đẻ lứa đầu: 488- 550 ngày, số con sơ sinh/lứa: 1,36-1,53 con/lứa, số lứa/cái/năm đạt 1,2-1,3 lứa. Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa đạt 90,4-94,6%.  Khối lượng của dê lai (75% Boer, 25% Bách Thảo) tại thời điểm 9 tháng tuổi là 31,6 kg đối với dê đực và 29,4 kg đối với dê cái. Tỷ lệ thịt xẻ đạt 47,6 – 50,5%. Khối lượng của dê lai (75% Boer, 25% Bách Thảo) thế hệ thứ nhất đạt ưu thế lai lần lượt là: 8,6% đối với dê đực và 1,03% đối với dê cái. Dê lai (75% Boer, 25% Bách Thảo) thế hệ cố định giống có khối lượng 9 tháng tuổi so với thế hệ dê lai (75% Boer, 25% Bách Thảo) thế hệ 1 là: -8,5% đối với dê đực và -20% đối với dê cái. Chính vì thế đề tài khuyến cáo nên dừng lại ở dê lai (75% Boer, 25% Bách Thảo) thế hệ thứ nhất vì nó vẫn thể hiện ưu thế lai cao.

Dê lai (75% Boer, 12,5% Bách Thảo và 12,5% Cỏ) đạt được một số chỉ tiêu như: Khối lượng 9 tháng tuổi đạt 22,4 kg đối với dê cái và 25,9 kg đối với dê đực. So với thế hệ F1 (50% Boer, 25% Bách Thảo, 25% Cỏ) thì đàn dê lai (75% Boer, 12,5% Bách Thảo và 12,5% Cỏ) tăng hơn từ 110 – 128% về khối lượng. Tỷ lệ thịt xẻ của dê lai (75% Boer, 12,5% Bách Thảo và 12,5% Cỏ) đạt 42,6%, thịt lọc đạt 29,4%. Tuổi đẻ lứa đầu của dê lai (75% Boer, 12,5% Bách Thảo và 12,5% Cỏ) từ 452-476 ngày; số lứa/cái/năm đạt 1,2-1,3 lứa; số con sơ sinh/lứa đạt 1,36-1,43 con, tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa đạt từ 96-90%. Dê lai (75% Boer, 12,5% Bách Thảo và 12,5% Cỏ) cố định giống có khối lượng tại các giai đoạn tuổi đều thấp hơn so với dê lai (75% Boer, 12,5% Bách Thảo và 12,5% Cỏ) thế hệ 1.

III. MỘT SỐ SẢN PHẨM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CÓ TRIỂN VỌNG THÍCH NGHI TỐT VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở KHU VỰC DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ

          Các nghiên cứu về tạo con lai giữa một số giống cao sản thịt ngoại nhập với nền giống địa phương đã có nhiều nhà khoa học đề cập (GS.TS. Nguyễn Văn Thưởng, GS.TS. Lê Viết Ly, GS.TS. Vũ Chí Cương, PGS.TS. Đinh Văn Bình, TS. Ngô Thanh Vinh …). Các công trình đã thu được rất nhiều thành công đáng kể, đã tác động rất lớn đến thay đổi nhận thức của nhiều người chăn nuôi hướng tới sử dụng con lai cao sản vào làm kinh tế trong chăn nuôi, đến nay rất nhiều địa phương đã ứng dụng các thành tựu đó và phát động nhiều chương trình của địa phương, các kết quả đó đã góp phần nâng cao được rất nhiều sản lượng thịt cho xã hội.

          Để nhân nhanh số lượng con giống tốt (Droughtmaster, Brahman, Dorper, Boer) đã được chọn lọc thích nghi với điều kiện khí hậu khô hạn thì việc chọn lọc những đực giống cao sản để sản xuất tinh đông lạnh và ứng dụng thụ tinh nhân tạo vào nhân giống là giải pháp hiệu quả đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới. Ở nước ta, tinh bò, dê đã được Trung tâm Giống gia súc lớn Trung ương (Trung tâm) sản xuất và đưa vào phối giống nhân tạo. Tinh cừu đông lạnh đang được Trung tâm xuất và chuẩn bị đưa vào và phối giống thụ tinh nhân tạo.

          Trung tâm có hệ thống chuồng trại, dây truyền và công nghệ sản xuất tinh đông lạnh tiên tiến tầm cỡ hiện đại thế giới, công suất trên 2.000.000 liều tinh bò đông lạnh/năm. Nguồn nhân lực được đào tạo rất cơ bản, chuyên sâu trong và ngoài nước. Tinh bò, dê, cừu đông lạnh VNALICA sản xuất tại Trung tâm được Bộ Nông nghiệp và PTNT đánh giá đạt chất lượng tốt, được phép lưu thông trên phạm vi toàn quốc và xuất khẩu ra nước ngoài như Lào; Campuchia,… Hệ thống phân phối tinh đông lạnh nhãn hiệu VINALICA tổ chức đồng bộ, khép kín từ sản xuất đến bảo quản tiêu thụ khắp miền Bắc-Trung-Nam, đáp ứng thuận lợi, nhanh chóng, thoả mãn cho 63 tỉnh thành cả nước với phương châm uy tín, chất lượng, hiệu quả.

          Hiện tại, Trung tâm có đủ tinh đông lạnh của các giống bò ngoại thuần chủng cao sản chất lượng cao chuyên sữa (Holstein Friesian), chuyên thịt (Droughtmaster, Red Angus, Charolaise, BBB), bò Brahman, tinh dê (Boer, Nubian, Alpine, Saanen, Beetal), tinh cừu Dorper để cung cấp cho các tỉnh/thành.

Tiêu chuẩn tinh trâu, bò, dê, cừu đông lạnh nhãn hiệu VINALICA

TT

Chỉ tiêu

ĐVT

Tiêu chuẩn

Tiêu chuẩn Quốc gia

VINALICA

Thế giới

1

Thể tích cọng rạ (V)

ml

0,25

0,25

0,25 hoặc 0,5

2

Số lượng tinh trùng sống trong 1 cọng rạ trước khi đông lạnh

Tr/CR

≥  25

≥ 25 – 35

≥ 25

3

Hoạt lực trước khi đông lạnh (A)

%

≥ 70

≥ 70

≥ 65

4

Hoạt lực sau sau khi giải đông (A)

%

≥ 40

≥ 50

≥ 35

5

Màu sắc vỏ cọng rạ (CR)

Không qui định

Theo từng giống

Không qui định

TRUNG TÂM GIỐNG GIA SÚC LỚN TRUNG ƯƠNG

Tin liên quan

Hướng làm giàu từ các giống bò thịt chất lượng...

Các giống bò thịt chất lượng cao như giống bò 3B và giống Red Angus đã trở nên thân thuộc và ngày càng được nhiều bà con nông...

THÔNG BÁO: Lịch khai giảng lớp đào tạo kĩ thuật...

Lịch khai giảng lớp đào tạo kỹ thuật THỤ TINH NHÂN TẠO trâu bò khóa 199: – Ngày khai giảng: Thứ Sáu ngày 15 tháng 6 năm...

Nuôi bò hữu cơ đạt hiệu quả cao

Cùng với việc nuôi bò cái sinh sản lai tạo bò giống tốt, để lấy ngắn nuôi dài, anh Phi còn tập trung nuôi bò đực vỗ...